HomeBảo Trợ Học VấnBảo Trợ Từ ThiệnCông tác xã hộiTâm TìnhTìm HiểuBản TinGia Đình VoviVui CườiAbout Us

Mục lục

Bản TinBản Tin số 29 (06/2011)  
Bản Tin số 1 (08/1998)
Bản Tin số 2 (12/1998)
Bản Tin số 3 (06/1999)
Bản Tin số 4 (09/1999)
Bản Tin số 5 (12/1999)
Bản Tin số 6 (06/2000)
Bản Tin số 7 (09/2000)
Bản Tin số 8 (12/2000)
Bản Tin số 9 (06/2001)
Bản Tin số 10 (12/2001)
Bản Tin số 11 (02/2003)
Bản Tin số 12 (10/2003)
Bản Tin số 13 (04/2004)
Bản Tin số 14 (09/2004)
Bản Tin số 15 (03/2005)
Bản Tin số 16 (06/2005)
Bản Tin số 17 (12/2005)
Bản Tin số 18 (04/2006)
Bản Tin số 19 (06/2006)
Bản Tin số 20 (12/2006)
Bản Tin số 21 (04/2007)
Bản Tin số 22 (12/2007)
Bản Tin số 23 (03/2008)
Bản Tin số 24 (12/2008)
Bản Tin số 25 (04/2009)
Bản Tin số 26 (11/2009)
Bản Tin số 27 (06/2010)
Bản Tin số 28 (12/2010)
Bản Tin số 29 (06/2011)
Bản Tin số 30 (04/2012)
Bản tin số 31 (01/2013)
Bản Tin số 32 (06/2013)
Bản Tin số 33 (01/2014)
Bản Tin số 34 (06/2014)
Bản Tin số 35 (01/2015)
Bản Tin số 36 (06/2015)
Bản Tin số 37 (01/2016)
Bản Tin số 38 (06/2016)
Bản Tin số 39 (01/2017) ̣


Welcome to Vovicare

VoviCare là một tổ chức từ thiện xã hội vô vị lợi đã hoạt động từ năm 2000 do một số người Việt tị nạn sinh sống tại Sydney - Úc châu sáng lập, chú trọng ưu tiên vào lãnh vực đầu tư học vấn cho các em - mồ côi hoặc nghèo nhưng hiếu học - có cơ hội được cắp sách đến trường.


Bản Tin số 29
Năm thứ 14 - Tháng 06/2011

Lá thư tin tức của gia đình VoviKungFu - Vovisoft - Vovicare

Trụ Sở Vovisoft : 950 Woodville Road, Villawood 2163  NSW, Australia
Ðiện thoại :         (02) 9153-7241 (sau 7:00pm)  hay mobile: 0416-106-725
Mạng Chỉ :               
www.vovicare.net

VOVICARE THÔNG BÁO
Vovicare hết sức mừng vui trước những kết quả tốt đẹp do các anh chị em thân hữu đã nhiều năm qua trường kỳ ủng hộ chương trình bảo trợ học vấn của Vovicare. Chúng tôi xin tóm lược kết quả tính đến cuối tháng 5/2011 như sau:
- Học sinh  đang được Vovicare bảo trơ học vấn là 273 em trong số này có 72 sinh viên.
- Sinh viên đã tốt nghiệp Đại học hay Cao đẳng hay Chuyên nghiệp là 45 em.
Số tiền bảo trợ học vấn được chuyển đến các em hàng tháng với mức ấn định căn bản:
- Học sinh =  $350.000VN/tháng
- Sinh viên = $400.000VN/tháng
Ngoài ra mỗi em còn nhận thêm tiền yểm trợ đặc biệt vào mỗi đầu niên học (khai giảng) với tiêu chuẩn sinh viên $1.000.000VN và học sinh $500.000VN (do quỷ Vovicacafé đài thọ). Và mỗi độ xuân về, mỗi em học sinh đều có tiền lì xì Tết, Tết vừa qua là $400.000VN/em.

VOVISOFT THÔNG BÁO
 
Hội thiện nguyện Vovisoft sẽ mở 2 khóa học mới về Computer dành cho đồng hương đã biết chút ít về computer với các chi tiết như sau:
- Khóa thứ nhứt:   Khóa Web Design For Beginner
Khoá học căn bản hướng dẫn cách thiết kế trang web, tạo ra một blog cho riêng mình, Tìm hiểu về HTML, Javascript, CSS v.v. Học viên phải có chút ít căn bản về cách sử dụng computer.
Khóa học sẽ khai giảng vào ngày Thứ Bảy 11/06/2011 từ 9:00 sáng đến12:00 trưa kéo dài 12 tuần mỗi thứ Bảy
- Khóa thứ hai:  Khóa Adobe Photoshop CS5 Căn Bản
Khoá học hướng dẫn sử dụng Adobe Photoshop CS5 trên hệ điều hành Windows 7 để chỉnh màu, chỉnh sắc, chỉnh nét và chỉnh sửa các trở ngại liên hệ đến hình ảnh dưới dạng kỹ thuật số. Khóa học chú trọng nhiều về thực hành. Học viên tham dự lớp cần phải có kiến thức căn bản về Nhiếp Ảnh và máy vi tính với nền Windows 7. Đây cũng là khoá học trang bị kiến thức cần thiết cho khóa Adobe Photoshop CS5 Trung cấp kế tiếp trong năm.
Khóa học sẽ khai giảng vào ngày Chúa Nhựt, 26/06/2011 từ 09:00 sáng đến 12:00 trưa  kéo dài 10 tuần mổi Chúa Nhựt.

VOVICAFÉ THÔNG BÁO
Sau khi nghỉ lễ Queen’s Birthday, VoviCafé sẽ mở cửa lại vào ngày Chúa Nhựt 19/06/2011 với món Mì Thái Lan ngon tuyệt vời. Mời các anh chị em thân hữu nhớ ghé quán thưởng thức.  Chớ bỏ qua rất uổng!
 
BÁO CÁO YỄM TRỢ CÁC CƠ SỞ TÌNH THƯƠNG DÂN lẬP TẠI VN
Theo kết quả buổi họp ngày 29/05/2011, Vovicare sẽ thực hiện các công tác yễm trợ cho các cơ sở tình thương dân lập tại Việt Nam cho tài khóa 20111-2012 bắt đầu từ tháng 06/2011 như sau:

1-Trường Tình Thương Ngãi Giao (Bà Rịa)                                      $4,000,000VN/tháng
2-Trường Tình Thương Pháp Hoa (Đồng Nai)                                  $6,000,000VN/tháng
3-Trại Phong Hòa Văn (Đà Nẵng)                                                   $4,000,000VN/tháng
4-Cô Nhi Viện Linh Sơn (Hốc Môn)                                                $4,000,000VN/tháng
5- Hổ trợ nhu cầu bệnh nhân Ung Bứu (SaiGon):                              $2,000,000VN/tháng
6- Nhà học sinh lưu trú sắc tộc Theresa (Daklak):                             $3,000,000VN/tháng
7- Nhà trẻ em khuyết tật Bình Minh (Daklak):                                   $3,000,000VN/tháng
8- Cô Nhi Viện Đăng Đừng (Lâm Đồng):                                         $4,000,000VN/tháng
9- Mái Ấm Hy Vọng Nguyệt Biều (Huế):                                         $4,000,000 VN/tháng
10- Bồi dưởng trực tiếp cho các em mồ côi các cơ sở dân lập (SG): $2,000,000VN/tháng


"Hảy đi góp lá nghìn phương lại
Đốt lửa cho đời tan khói sương"


TƯỞNG NIỆM THẦY LÝ HỒNG TUẤN

Mây trời theo gió thênh thang.
Buồn vui theo mấy cung đàn năm xưa.
   
    Mỗi năm, cứ vào đầu tháng sáu thì gia đình Vovi lại tổ chức lễ tưởng niệm thầy Lý Hồng Tuấn. Nhân dịp nầy, Sơn Đặng xin được chia sẻ cùng quí anh chị một vài nét về Thầy.
    Thầy Tuấn, thầy Sơn Trần, thầy Tùng và tôi cùng quen biết nhau vào năm 1985. Dường như có duyên từ bao kiếp nên bốn người chúng tôi chơi với nhau rất hạp “gu”. Thầy Tuấn là dân nhà võ chuyên nghiệp vì vậy trong những lần họp mặt, Thầy
thường khuyến khích chúng tôi tập võ để giữ cho thân thể được khỏe mạnh. Từ đó cứ mỗi cuối tuần thì chúng tôi lại cùng nhau họp mặt để tập võ, uống trà và luận bàn chuyện thế sự . Nói tập võ cho nó oai chứ thật ra chủ yếu Thầy dạy cho chúng tôi những thế thể dục và nội công căn bản của Hồng Gia, mục đích để cho sức khoẻ được tốt và tránh bịnh tật.
    Nói về võ nghệ thì chắc là Thầy phải giỏi lắm vì nếu không thì trong bao nhiêu huynh đệ, làm sao mà Thầy lại được sư phụ ưu ái truyền cho chức chưởng môn Hồng Gia! Còn nói về tính tình thì trong 11 năm quen với Thầy, tôi chưa hề thấy Thầy nổi giận, gây gổ hay bực bội với ai bao giờ. Lúc nào Thầy cũng hòa đồng và vui vẽ với mọi người. Anh em chúng tôi gọi Thầy bằng Thầy thì Thầy cũng gọi lại chúng tôi bằng Thầy. Thầy nói gọi như vậy cho thân mật và bình đẳng. Thế là có thầy Sơn Trần, thầy Tùng, thầy Sơn Đặng, thầy Giang, thầy Hồng…
    Nói về chữ nhẫn thì chắc khó có ai qua được Thầy. Lúc mới mở shop computer, Thầy thức đến 1, 2 giờ sáng để làm việc là chuyện bình thường. Trong một buổi họp mặt, chúng tôi cùng nhau bàn luận làm sao để học được chữ  nhẫn! Khi chúng tôi nói muốn học nhẫn thì phải tập nhịn nhục thì Thầy không đồng ý và Thầy nói Nhẫn nhưng phải Hòa. Có lẽ đây là phương châm sống và làm việc của Thầy. Nhẫn, Hòa và Bình Đẳng để phục vụ cho tha nhân. Người ta mời Thầy ăn chay thì Thầy rất vui vẽ, người ta rũ Thầy nhậu thì Thầy cũng nhậu, người ta mời Thầy hút thuốc thì Thầy cũng hút, người ta rũ hát karaOk thì Thầy cũng hát, hát rất nhiệt tình, mặc dầu Thầy hát không được hay cho lắm! Nhờ sống hòa đồng mà Thầy làm quen được với nhiều người rồi từ đó Thầy dạy họ tập võ, tập thể dục và hướng dẫn để họ có một đời sống lành mạnh và tốt đẹp hơn.
    Sau nhiều năm gần gủi, cái tinh thần hòa đồng, bình đẳng và vô vị lợi để phục vụ tha nhân của Thầy đã lan truyền qua anh em chúng tôi hồi nào không hay.
    Sau ngày Thầy mất vì tai nạn xe cộ, để tưởng nhớ đến Thầy anh em chúng tôi cùng tụ tập lại với nhau thành lập Vovikungfu. Lớp do thầy Sơn Trần hướng dẫn dạy võ cho các em nhỏ và thể dục dưỡng sinh cho những người lớn tuổi.
    Hai năm sau thì Vovisoft ra đời rồi đến Vovicare, rồi Vovicafe, tất cả đều hướng về Thầy với tinh thần vô vị lợi, nhẫn hòa và bình đẳng để phục vụ tha nhân. Với tinh thần nầy mặc dù sinh hoạt đã 15 năm rồi mà nhóm chúng tôi không có ai là hội trưởng hay hội phó gì cả.  Anh chị em cùng nhau chia công việc ra làm, ngay đến thẻ hội viên chúng tôi cũng không có, hể ai đến với nhóm chúng tôi và bắt tay vào việc là đã trở thành hội viên rồi! Có lần Tony nói: Ai muốn trở thành hội viên thì cứ việc đến đây bắt tay vào việc là thành hội viên liền, dễ lắm!
    Có một vài thân hữu khi đến sinh hoạt với nhóm chúng tôi họ cảm nhận được cái tinh thần hòa đồng và không khí sinh hoạt rất thoải mái, thân thiện. Có lẽ vì vậy mà các anh chị nầy đã gắn bó với nhóm chúng tôi từ bao nhiêu năm nay mà không hề thấy chán! Trong một buổi lễ tưởng niệm thầy Tuấn trước đây, một ngày đầu Đông, anh chị em họp mặt trong một bầu không khí thân thiện, vui vẽ và ấm cúng, thầy Hồng đã nói với tôi: Nếu mà thầy Tuấn biết được anh em mình có được ngày hôm nay thì chắc là Thầy vui lắm!
    Đã 15 năm trôi qua kể từ ngày Thầy mất, một lần nữa anh chị em gia đình Vovi lại cùng nhau họp mặt để tuởng nhớ đến Thầy. Mong rằng cái tinh thần sống và làm việc của Thầy sẽ được tiếp nối và phát triển mãi mãi để có thể mang lại chút hơi ấm trong cuộc đời vốn đã có quá nhiều đau khổ!

Sydney, một ngày đầu mùa Đông 2011.
sondang.

_________________________________________________________________

CHUNG QUANH GÁNH HÀNG TÌNH THƯƠNG năm 2011

    Lần thứ 10 Vovicare gánh Gánh  Hàng Tình Thương ra Black Muscat Park cùng một chỗ như 9 lần trước vậy, nhưng lần nầy chuyện dành bàn lấn đất rất chi là êm ái, không có nhóm nào đến đòi share tuy rằng trước khi trời sáng dưới ánh đèn pin khuôn mặt các chàng ngự lâm dành dân lấn đất cũng đâm chiêu: không biết năm nay có tụi nào đến dành chỗ với mình không?

    Năm nay đặc biệt chút xíu là vào lúc sáng sớm khi các nhân viên của hội đồng thành phố đang làm vệ sinh thì chiếc xe truck to kềnh của nhóm chở lỉnh kỉnh đồ đạc tới, gánh hàng ra chợ bằng xe truck to như vậy đó, oai chưa!!!  Cái cảnh người khiên kẻ vác tấp nập làm mấy nhân viên nầy đến hỏi: “ bộ tụi mầy picnic đông người lắm hả”, chắc là anh trưởng ban Tony nói rằng tụi tao đông lắm (mà đông thiệt, ngót ngét 2 ngàn phải không anh trưởng ban?), cho nên sau đó họ chở tới cho thêm mười mấy thùng rác thứ lớn, (làm dân nước giàu, dân chủ  sướng thiệt, vậy thì những ai đi làm hoặc kinh doanh bị đóng thuế đừng cằn nhằn nha) Mười mấy thùng rác nầy có nhằm nhò chi đâu, khi buổi chợ tàn rồi làm vê sinh xong ngoài mười mấy thùng rác đầy nhóc còn cả mấy chục bao rác chất thành hai đống cao nghều nghiệu, việc làm vệ sinh nầy như nhiều năm trước là do hai anh Niệm và Sang dẫn đầu với sự tiếp tay của hầu hết quí vị góp công góp sức trong việc gánh GHTT ra chợ. Năm nay lực lượng gọi là hậu duệ như con cháu của anh chị Sơn-Tú, Khang-Loan, Tôn-Ngân, Khánh-Oanh...góp những bàn tay hết sức là hữu hiệu trong chuyện khiêng vác mọi thứ nặng nề lên xuớng xe truck, như một anh trong nhóm Vovicare  nhận xét: năm nay không có tụi nhỏ thì mấy ông già nầy vừa khiêng vừa hả họng thở. He he he luật của Tạo-Hóa mà không một ai chạy thoát. 
    Việc chuẩn bị thực phẩm là chính yếu nên như mọi năm các chị trong nhóm ẩm thực hẹn nhau những cuối tuần cả tháng trước để vò, nặn, gói, cuốn nào bánh ích trần, bánh bột lọc, chã giò.... để đầy 2, 3 cái freezer. Các chị nầy là Hạnh (chef), Thúy-Hoa (phó chef), Loan, Phú, Hiền, Lan-Hương, Nam-Hương, Ngân, Thu, Vân, Hồng, Khanh, Oanh...(nếu có thiếu sót xin quí vị vui lòng thông cảm vì kẻ viết bài lặn rất sâu trong những ngày nầy). Có một lần thấy mấy chị đang rọc lá chuối có cả đọt tôi hỏi: Sao cắt cả đọt chuối của người ta vậy? Trả lời rằng nó cho thì lấy chớ sao, đọt cũng gói bánh được mà, lá chuối mắc lắm. Khi biết được chủ nhân thấy vườn chuối nhà mình trông vô trật tự quá muốn dẹp vườn chuối luôn nên để cho nhóm săn lùng lá chuối mặc tình chặt lá đốn cây, tôi nghĩ bụng: Trời lúc nào cũng thương bọn mình, đúng lúc, đúng lúc quá, hi hi hi.
     Trong chuyện nấu nướng còn một việc nầy vui vui nữa quí vị, số là Chúa Nhật trước GHTT đúng một tuần, tôi xách giỏ tà tà vô quán Vovi, vừa thấy mặt tôi cô hàng café Lan-Hương nói: chị à hôm nay em hên lắm, cơm rượu vì thời tiết trở lạnh bất thường nên hư hết trơn làm tuần nầy không có để bán (Xin được giới thiệu với qúi vị không có dịp đến quán Vovicafé: hai cô hàng café Lan-Hương và Nam-Hương là hai chị em làm cơm rượu hằng tuần cho Vovicafé để bán gây quỹ cho Vovicare). Thấy cái mặt tôi nghệch ra không hiểu cô nàng muốn nói gì, Hương cô nương bèn giải thích: tuần nầy nó hư như vầy mình lấy kinh nghiệm cho tuần sau GHTT em làm nhiều lắm, tuần sau nó mới hư như vầy thì khổ mình biết là bao!!! Thì ra là vậy, bấy giờ thì tôi mới hiểu ý nghĩa của chữ hên. Ngoài các món ăn kể trên, còn khoảng 4,5 chục món nữa được ghi trong list đều do thiện nguyện viên làm tại Vovi quán hay làm tại nhà mang vô chợ.
    Cũng như mọi năm các đấng con nít có gian hàng Garage sale, gian hàng nầy do Vân-Linda là con trai và dâu của anh chị Sơn-Tuyết chịu trách nhiệm với sự cộng tác của trưởng nữ, út nữ của anh chị Hồng-Giác, cháu Hiển con trai út của anh chị Tú-Sơn. Năm nầy các đấng con nít làm ăn khắm khá quá chừng, khi tôi đến hỏi thăm: Linda buôn bán ra sao rồi? Vừa tủm tỉm cười vừa đếm tiền cô nàng mau mắn trả lời: được lắm được lắm, có nhiều người đến hỏi mua cùng một lúc trả lời muốn không kịp vậy đó, bán được hơn 700 đồng rồi. Tụi con giỏi lắm, chúc mừng mấy đứa con nha.

    À mà quên Garage sale còn có thêm món bán vé và sổ số tại chỗ nữa chứ, người trúng giải đầu tiên là ... anh trưởng ban tổ chức GHTT. Xem anh lên lảnh giải trong DVD GHTT làm tôi nhớ lại cách nay khá lâu khi nhà tôi làm phó chủ tịch Hội Cựu Quân Nhân Quân Lực Việt-Nam Cộng Hòa NSW đồng thời là trưởng ban tổ chức cho môt buổi tiệc gây quỹ có xổ số cho hội, tôi nhớ có nhiều giải lắm nhưng cuối cùng người trúng giải độc đắc là ... tôi, khi biết mình trúng trong bụng khoái lắm giống như là sự may mắn đến với mình, nhưng khi lên lãnh giải tôi chợt nghĩ: mình lãnh giải nầy thấy hơi kỳ kỳ nên khi lãnh xong tôi trao lại cho hội ngay để tùy nghi xử dụng. Viết đến đây tôi chợt nhớ một chuyện nửa cũng liên quan đến việc xổ số của gia đình Vovi khi mà nhóm còn tổ chức tất niên ngoài park. Lúc đang xổ số (vé số được biếu chứ không bán với ý muốn mang chút niềm vui đến cho người tham dự) tôi ngồi kế bên một cập vợ chồng chắc là khách mời còn rất trẻ, cô vợ xoay qua nói với chồng (nói lớn chứ không phải thì thầm đâu nha): bọn họ trúng hết không có giải nào cho mình đâu khỏi phải ngồi đây chờ cho mệt thân, tuy nói vậy nhưng họ vẫn ngồi tại chỗ. Chỉ vài phút sau tôi nghe cô vợ reo lên: có đây!!! rồi đứng lên đi lãnh giải, một chút sau chị lại reo lên: có đây !!! và người chồng đứng lên đi lãnh giải, không biết trên đường về nhà ngày hôm đó cập vợ chồng nầy có chút nào hối hận về việc lỡ lời của mình hay không, hay chỉ ngẫu hứng nói một cách vô tội vạ rồi quên mất tiêu? Đời: c’est la vie là vậy. Có những sự trùng hợp ngẫu nhiên làm người trong cuộc cảm thấy ngại ngùng, còn như trường hợp trên sự ngẫu nhiên minh oan ngay cho những người tổ chức buổi tất niên hôm đó. Không cần phải biện minh, sự thẳng thắng và chân thành trong tâm tưởng và hành động như một cây lành sẽ sinh trái ngọt vậy.
    Đang đi vòng vòng bị trật quỹ đạo tôi bị bắn quá xa rồi, bây giờ mình trở lại đi chung quanh GHTT 2011 nghen quí vị. Nói đến các gian hàng thuộc loại không ẩm thực thì nhộn nhịp  nhất là gian hàng ca-ra-ô-kê do chị Oanh-Khánh phụ trách, thực khách đăng ký ok-tui-ca thấy mà mê luôn, danh sách dài ơi là dài. Chị Oanh kể: chị biết hông khi đang ca có một chị tự động cầm cái nón lá đi vòng vòng xin tiền khán giả, em đâu có nhờ đâu, được kha khá chị mang đến đưa cho em. Một hồi em lại thấy chị cầm cái nón đi vòng vòng nửa rồi mang tiền đưa cho em, tổng cộng hai lần như vậy em đếm được ...so-ri Oanh nghen chị quên em nói bao nhiêu rồi, gian hàng nầy làm ăn cũng khắm khá nên sau buổi chợ thấy nàng ca-sĩ ca-ra-ô-kê Oanh cười tươi rói.
    Năm nay GHTT có hai gian hàng mới là Photoshop và Bonsai. Gian hàng photoshop được chưng bày hết sức trang nhã và đẹp mắt, đứng đầu gian hàng nầy là anh Hiền đang là thầy giáo của Vovisoft. Khi đang phục vụ khách, một chị khách hàng hỏi tôi: chị à cái chỗ chụp hình có trang điểm cho mình trước khi chụp không dzậy? Soup tui chỉ biết có hai bà hàng xóm là cháo lòng, cháo huyết và mấy quán vòng vòng như bánh tôm chiên Hồ-Tây, gỏi cuốn, bò bía... các món ăn chay tức là mấy thứ làm cho no bụng thôi, còn cái chuyện nghê thuật nầy tui hỏng có biết chị qua bên kia hỏi nha, Gần tan chợ gặp lại chị tôi hỏi: chị chụp hình chưa? Tui lượn qua lượn lại mấy lần rồi cuối cùng quyết định... không chụp bởi vì mấy cô trong gian hàng đó trẻ đẹp quá chời tui vô sợ quê, với lại chị biết hông mình ăn uống no nê, cái mặt phấn son tèm-lem chụp hình coi hổng có được. Đem cái chuyện ăn uống no nê, cái mặt son phấn tèm-lem nói với lại vài chị trong Vovibếp, tôi lượm được ý kiến như vầy: để cho cái eo còn thon, cái bụng xẹp lép, son phấn (make-up) còn nguyên vẹn thì phải chụp hình trước khi xếp hàng lấy bánh xèo, bún thịt nướng... nghĩa là trước khi cái bụng no nê, như vậy các bác phó nhòm hy vọng có dịp bấm bấm bấm nhiều hơn. Muốn được như vậy đề nghị GHTT năm 2012 gian hàng photoshop nên để bên ngoài cổng ra vào nghĩa là bên ngoài nơi nhóm chợ, hy vọng khi đó bà con ta bo-đi (body) còn đẹp đẻ sẽ khoái chụp hình hơn.


Gian hàng PhotoShop

    Gian hàng Bonsai mới xuất hiện lần đầu trong GHTT do hai nghệ nhân Chí-Phượng phụ trách, anh chị cho biết tất cả những cây kiểng gánh ra chợ bán được bao nhiêu đều cho GHTT hết kể cả một cây anh dành cho đấu giá (anh chị được giới thiệu với gia đình Vovi trong dịp nhóm tổ chức tất niên 2010). Trước GHTT vài tuần anh Chí mang cho quán một cây bonsai để bán gây quỹ với giá $250, để mấy tuần mà không bán đuợc làm cho chủ nhân có vẻ lo (tui đoán như vậy), anh cho biết cây bonsai để đấu giá rất ... bonsai có nghĩa là cây nầy thọ mấy chục tuổi rồi, giá ngót nghét $2,000. Anh dự trù giá gọi đầu tiên là $450, nếu không ai theo thì anh sẽ gọi $500, với số tiền nầy anh sẽ cho GHTT luôn. Nghe anh dự trù như vậy có vài vị trong Vovicare thấy ái náy trong bụng bèn bàn nhau: thôi thì mình cũng dự trù mang theo hầu bao nhiều hơn $500 để lỡ ra không ai đưa tay lên thì mình xung phong ... mang nàng Bonsai nầy về dinh của mình. Vậy mà qua tài đấu gíá tài tình của chị Ngọc-Hà, chị ăn nói khéo léo, uốn ba tất lưỡi thế nào mà đánh động được lòng thương cảm của nhiều người đối với con trẻ bất hạnh nơi quê nhà mà giá cây bonsai lên vù vù lên đến $1,800 đến con số nầy chị mới chịu gõ búa ba lần, phục chị lắm nghen chị Ngọc Hà.
 


Bonsai thứ thiệt

    Tôi ghé gian hàng bonsai khi chợ gần tàn, anh chị Bonsai cho biết buôn bán cũng khá lắm, khi đi ra tôi gặp ba bà Ấn-Độ cũng đi ra, họ hỏi tôi: you người Tàu hả? Không tui người Việt-Nam, xong họ chỉ mấy cây bonsai còn lại trên bàn nói: mấy cây nầy nhìn đẹp lắm nhưng sao nó có chút xíu không bông hoa gì hết mà mắc quá vậy? trả lời rằng phải mất thời gian dài lắm bà mới thấy nó đẹp như vậy đó, chẳng biết 3 bà có hiểu tôi nói cái gì không đây. Cuối buổi chợ chị Phượng mang đưa cho tôi cái bao thơ: nè tiền bán cây đó, $700 tui không biết đưa ai tui đưa cho chị. Chiều về trụ sở khi anh thủ-ủy kiêm trưởng ban tổ chức thu tiền từ mọi ngã đường, tôi đưa bao thơ và nói: $700 của gian hàng bonsai đó, có vị kêu lên: chà gian hàng bonsai hôm nay giàu quá ta. Chúc mừng hai nghệ nhân Chí-Phượng nghen.


Gian hàng Bonsai

    Định stop nhưng chợt nhớ còn vài việc tôi nghe ngóng, thu thập được từ nhiều nơi sau GHTT 2011 nên quí vị chịu khó đọc tiếp chút xíu nha.                                                                         
Việc thứ nhất là vấn đề xếp hàng để được đóng tem trên tay trước khi vào chợ. Có một gia đình 3 người lớn lúc chợ gần tàn gặp nhà tui đang lang thang kéo lại hỏi: đóng tem để làm cái gì vậy, vừa nói ông vừa kéo tay áo lên: tôi đi ăn mười mấy thứ có nơi nào biểu tôi vén tay áo lên coi đâu, đại khái nhà tôi trả lời GHTT muốn mỗi năm phục vụ khách tốt hơn nên thử cách nầy cách nọ vậy mà. Có một chị khách với cả nhà hơn 20 người còm-pờ-len (complain) cái vụ xếp hàng đóng tem quá chừng, chị nói chúng tôi kẻ đầu hàng người cuối hàng chờ nhau đến gần ½ tiếng đồng hồ mất thì giờ quá đi, quí vị tính lại cái vụ đóng tem nầy đi nghen, dạ dạ dạ chắc là sẽ tính lại.


Cảnh xếp hàng này cần phải xem lại.

    Việc thứ hai là sau GHTT năm nay tui copy được hai ý rất khoái trong bụng như vầy. Nhân một buổi tán gẫu với một chị bạn có đóng góp trong GHTT, cuối buổi tán dóc qua điện thoại tôi nói: nhớ tới Tiệc Cám Ơn chơi nghen, chị nói liền: tôi nghĩ dùng chữ tiệc cám ơn không đúng, trong việc làm nầy không ai cám ơn ai hết, mọi người thấy việc làm đúng cùng góp tay vào làm, những người góp công góp sức họ không cần cám ơn đâu, chị thòng thêm một câu: ý kiến cá nhân tôi là như vậy. Tôi chộp cái ý nầy liền đem nói với một anh trong ban điều hành Vovicare, anh nói: đúng đúng, Vovicare cám ơn sự đóng góp công sức của mọi người bằng cách mình xài đồng tiền do công sức nầy làm ra một cách có Trách Nhiệm và đúng Mục Tiêu đã được đề ra. Tôi thầm cám ơn hai vị nầy đã gieo vào lòng tôi thêm sự tin tưởng và quyết tâm hơn vào con đường mình đang đi trong những năm tháng còn lại của cuộc đời. Đề nghị năm sau mình sẽ có tiệc “Cám Ơn Nhau” nha quí vị. Cũng trong buổi tiệc nầy ban tổ chức cho biết số tiền thu được là $34,775.00, một mạnh thường quân thấy vậy bèn cho nó tròn 35 ngàn đồng luôn. Trong buổi tiệc nầy mà không nói đến ban hợp ca Vovibếp thật là một sự thiếu sót, trong hình dưới đây quí vị thấy các ca sĩ của nhóm đang vo tròn đôi môi để diễn tả ý nghĩa bài ca Đi Ta Đi của nhạc sĩ Cung Nhật, nhạc sĩ nầy là thành viên lâu đời của Vovicare, anh cùng với bà xã là chị Phú phụ trách món Bún Bò Huế cho Vovicafé. Cảm nhận được sự cần thiết về việc làm của nhóm, anh sáng tác bài ca nầy cho nhóm để khuyến khích tinh thần của tất cả mọi người trong nhóm kể cả những ai ngắm nghé muốn bước chân vào, cứ bước vào không cần ai đón mời. Muốn nghe bản nhạc nầy mời quí vị vào: vovicare.net mục sinh hoạt.
     Hẹn gặp lại tất cả quí vị trong Bản Tin sau.


Ban hợp ca Vovibếp

Vy Trương
____________________________________________

NHỮNG CÁNH THƯ HỌC TRÒ
(Viết từ quê hương)

Thư của em Trần Thị Ngọc Vy
EmTrần Thị Ngọc Vy được Hội Vovicare nhận bảo trợ vào năm 2006 do anh Nguyễn Văn Nhã bảo trợ. Sau 4 năm chăm lo học hành, em Ngọc Vy đã tốt nghiệp Đại học Đà Lạt chuyên ngành Hóa vô cơ vào tháng 7 năm 2010
Mặc dù đã ra trường và có việc làm nhưng thỉnh thoảng em vẫn viết thư liên lạc với người ân nhân bảo trợ của em.

Kính gởi chú Trần Tuấn Nhã.
Hôm nay, cháu viết thư trước hết thăm hỏi sức khoẻ chú và gia đình chú, sau là cháu xin thông báo tình hình làm việc của cháu sau khi tốt nghiệp đại học.
Một năm mới bắt đầu với bao bôn bề công việc, chú cũng như cháu cố gắng hoàn thành tốt những việc trước mắt và chăm lo cho gia đình, cháu hy vọng là chú luôn luôn khoẻ mạnh và thành đạt trong sự nghiệp hiện tại. Cháu có được thành tích như hôm nay cũng nhờ một phần lớn bàn tay nhân ái của chú. Chú đã hổ trợ, giúp đở và ủng hộ cháu trong suốt khoảng thời gian cháu ngồi ở ghế nhà trương. Cháu vô cùng biết ơn chú!
Hiện cháu đang công tác tại một doanh nghiệp sản xuất giấy xuất khẩu, đồng thời cháu cũng tranh thủ dạy thêm tại nhà cho học sinh để kiếm thêm thu nhập. Cháu rất thích làm giáo viên nhưng trước mắt chưa thể tiếp cận được với nghề vì một vài khó khăn nhất định. Tuy nhiên, cháu sẽ phấn đấu hơn vì tương lai của bản than và gia đình cháu. Dù chưa gặp mặt cũng như đàm thoại trưc tiếp, liên lạc qua điện thoại nhưng cháu luôn nhớ về chú và cầu nguyện chú luôn bình an. Nếu có thời gian, chú có thể gọi cho cháu số điện thoại: ...... hoặc email: ...
Cháu chúc chú và gia đình chú luôn luôn vui vẻ và hạnh phúc!
Phan Thiết, ngày 25 tháng2 năm 2011.
Ký tên
Trần Thị Ngọc Vy

Thư của em Đổ Thị Thục Uyên
Em  Đổ Thị Ngọc Uyên, một học sinh Quảng Nam được Hội Vovicare nhận bảo trợ từ năm 2008, hiện em đang học lớp 10 viết thư cho người trực tiếp bảo trợ cho em.

Đà Nẳng, ngày 23 tháng 1 năm 2011
Kính gửi bác Nghiêm Minh Phước.
Bác Phước ơi! Vậy là một năm nữa lại trôi qua rồi. Bước sang năm mới con chúc bác luôn được mạnh khoẻ, vui vẻ và hạnh phúc. Bác ơi! Dạo nầy công việc của bác vẫn tốt chứ ạ? Bác và bác gái vẫn khoẻ chứ ạ! Con mong tin bác quá.
Còn phần con bên nầy con cũng rất ổn. Bước vào cuộc sống cấp ba, tuy có nhiều cái bỡ ngỡ xa lạ nhưng con sẽ cố gắng thích nghi dần dần với môi trường mới.
Bác Phước ơi! Bên ấy hiện giờ có lạnh như ở Việt Nam lúc nầy không hả bác? Con không biết bên ấy thế nào nhưng ở Việt Nam bây giờ thì rất lạnh, thậm chí còn rét nữa đó bác. Vào những ngày lạnh như thế nầy thì ai cũng trang bị cho mình những chiếc áo ấm nhất để ra đường và con cũng vậy. Bác biết không, mỗi buổi sáng đi học sớm, con đều thấy trên đường những em bé nhỏ mặc áo quần phong phanh và đứng ở đường biển mấy tiếng đồng hồ. Con nghĩ chắc bác đang thắc mắc là các em ấy đứng ở đó để làm gì đúng không ạ? Thưa bác, các em ấy đứng đó là để chờ có xe nào đi qua thì xin đi nhờ đến trung tâm vé số. Bác ơi! thật tội nghiệp phải không ạ? Nhìn thấy mình áo ấm đầy đủ trong khi các em ấy lại không có đồ ấm để mặc, con thấy thương các em ấy vô cùng. Con ước sao mình có thể làm được điều gì đó cho các em nhỏ ấy. Và ngay lúc nầy đây, con nghĩ muốn giúp đở các em nghèo thì ngay từ bây giờ con phải ra sức học tập. Và không chỉ có con mà toàn thể học sinh Việt Nam đều phải làm như vậy để có thể giúp các em nhỏ và phục vụ đất nước Việt Nam.
Bác ơi! Con xin lỗi, con lại nói lung tung rồi. Thưa bác, con đã nhận được tiền học bảo trợ và bốn trăm nghìn tiền Tết rồi ạ. Con xin cám ơn bác, cám on bác vì tất cả, cám ơn bác đã luôn ở bên con, ủng hộ con trong suốt chặng đường đi vừa qua.
Thôi thư đã dài, con xin dừng bút đây, con chúc bác và bác gái luôn vui vẻ, mạnh khoẻ, hạnh phúc và an lạc trong cuộc sống. Bác cho con gửi lời chúc sức khoẻ đến mọi người trong hội. Chúc các cô chú gặp thành công trong năm mới nầy. Và một lần nữa con xin cám ơn bác trong năm vừa qua. Con sẽ cố gắng học thật giỏi để không phụ lòng mong mỏi của bác, của quí hội, của thầy cô và của mẹ con nữa.
Cháu của bác
Đỗ Thị Thục Uyên

Thư của em Trần Minh Khiêm
Cha của em Trần Minh Khiêm bị mất tích trong cơn bảo Chanchu 2006. Em là 1 trong số 32 em học sinh có hoàn cảnh tương tự được Vovicare nhận bảo trợ từ năm 2006. Hiện em học lớp 8. Dưới đây là lá thư của em viết cho người bảo trợ của em nhân dịp đầu năm 2011.

Quảng Nam, 17-1-2011
Cô Khánh Vân kính mến!
Hôm nay viết thơ cho cô mà trong long con rất vui, chắc cô cũng vui lắm. Con nhận ra sự cố gắng nào cũng có sự đền bù xứng đáng. Học kỳ 1 con được học khá, hạnh kiểm tốt. Điểm của con rất cao so với chỉ tiêu đạt học sinh khá. Mẹ con và mọi nguười rất vui.
Con quên mất hỏi cô có khoẻ không. Mẹ con nói: “cô khánh vân mà nghe tin con học tiến bộ như vậy chắc cô khoẻ lên chút nữa” có đúng vậy không cô? Gia đình cô bên ấy có vui không? Mọi người đón Giáng Sinh chắc vui lắm. Con thì không được đi chơi nô-en nhưng con cũng không buồn đâu.
Qua kỳ 2 con cũng cố gắng hơn nữa. Mẹ con nói nếu cố gắng lên đến loại giỏi thì mẹ có thưởng cho con. Nhưng con thì dù mẹ có thưởng hay không con cũng sẽ cố hết sức mình. Học ở trường mới thật tốt quá, đúng không cô? Thời gian qua con cũng đã hoà nhập được với các bạn ở đây, cả các thầy cô cũng rất thương con vì nhà con nghèo nhất lớp mà học tiến bộ nhất, con mừng lắm.
Con cám ơn cô vì cô giúp con nên con có thể quyết tâm cố gắng để cô và mẹ con vui. Con mong tiếp tục được cô giúp đở tiếp. Tết nầy tuy không được đi chơi với ba con nhưng con cũng bớt buồn rồi cô ạ, và con cũng rất nhớ ba con. Mẹ con nói ba con cũng đang vui vẻ vì biết con học hành chăm chỉ và bớt đi chơi lại đó cô, cô có tin không?
Con chúc cô và gia đình cô năm mới thật thành công và dồi dào sức khoẻ. Con xin dừng bút tại đây , con chào cô.
Con 
Trần Minh Khiêm

________________________________________________
 
ĐƯỜNG ĐẾN TRƯỜNG TÔI

    Đường đến trường tôi sáng hôm nay sao đẹp quá, có cây xanh mướt, những giọt sương long lanh trêm lá dưới ánh nắng mai như hàng vạn hạt kim cương sáng ngời.
    Con đường này lâu nay lầy lội, lấm bùn, sao sáng hôm nay bổng nhiên khô ráo, em ạ, tôi có cảm tưởng như được trải thảm để chào đón tôi.
    Con đường này thường ngày nó chật hẹp, quanh co, lởm chởm đá, sao hôm nay nó rộng rãi hơn, thẳng tấp hơn.
    Con đường này thường ngày tối tăm, u buồn lạnh lẽo, sao hôm nay nó sáng láng, vui tươi, ấm áp lạ thường.
    Tôi bước đi chậm hơn mọi khi, tôi muốn tận hưởng cảnh trí hôm nay, ôi sao đẹp lạ lùng.
    Tôi đang mê hay tỉnh, mà có mơ tôi cũng hài lòng, tôi cầu xin trời cao cứ cho mơ như thế này, để tôi còn có đủ nghị lực cấp sách đến trường, đủ sức mạnh gánh hàng phụ mẹ, đủ dẻo dai vác cuốc theo cha.
    Không đâu em, em không mơ đâu. Con đường đến trường em hôm nay đẹp hơn vì nó đã được trang điểm bằng hàng ngàn quả tim yêu thương gởi về từ công viên Chipping Norton. Con đường đến trường em hôm nay sáng láng hơn vì nó được thắp bằng hàng ngàn quả tim nồng ấm từ xứ Kangaroo. Con đường đến trường em hôm nay vang tiếng chim ca, không đâu đó là chuỗi âm thanh của chén, dao thớt, nồi niêu và tiếng cười nói của các dì, các cô, các chị, từ quán Vovicafe, ở xóm củi (Villawood) vang về. Con đường đến trường em hôm nay êm ả hơn vì nó được nện đi nện lại hàng ngàn lần bởi những bàn tay, đôi chân rắng chắc của các bác, các chú, các anh phụ trách phần xây dựng, sửa chửa, khuân vác, dọn dẹp thuộc Vovicare dày công xây dựng
    Em cứ mơ vì con đường đến trường em ngày nào cũng sẽ đẹp như hôm nay. Vì những quả tim yêu thương, nồng ấm này tuy cách xa vạn dậm nhưng vẫn đủ nong để soi sang con đường em đi, Vì những bàn tay, đôi chân không mõi mệt này vẫn còn đủ mạnh để san bằng gai chong cho em đở đau đớn.
    Cố gắng em nhé, tình người xa xứ vẫn tràn đầy trên những gánh hang ra công viên vào mỗi tháng tư. Mọi người hướng về em, mọi người nói về em, mọi người đặt kỳ vọng ở em, mọi người cùng hiệp sức sửa sang con đường đến trường cho em.
    Em có thấy không? Tương lai sang lán đang chờ em ở cuối con đường.

LP Cantho

____________________________

Xót lòng nhìn những đứa trẻ VN hiện nay 

    (Dân trí) - Chúng tôi gặp các em ở Khu kinh tế thương mại đặc biệt Lao Bảo. Cứ khoảng 3 lần một ngày, vào đầu buổi sáng, trưa và chiều muộn, các em lao vào những đống rác thải đổ giữa khu thương mại, bới tung rác để tìm nhặt những trái cây đã thối rữa…
    Mỗi khi kiếm được “chiến lợi phẩm”, các em đưa ngay lên miệng ăn, thậm chí hồn nhiên tranh giành nhau, bất chấp thứ quả đó đã thối ủng, mốc đen...


    Ra khỏi khu chợ rẽ lên hướng cửa khẩu quốc tế Lao Bảo-Quảng Trị (cách đó khoảng vài trăm mét), một nhóm các em nhỏ khác đang vui mừng trở về bản với những bao ni lông đựng đầy táo, xoài, cam cũng đã nham nhở thối…
    Hầu hết các em là con em bà con Vân Kiều ở bản Ka Tăng, thị trấn Lao Bảo, Hướng Hóa, Quảng Trị.
    Những tiểu thương ở khu chợ này cho biết, nhiều em trong số đó đang là học sinh thuộc trường tiểu học số 2 Lao Bảo (điểm trường Ka Tăng). Mỗi ngày ít nhất cũng có hàng chục em đi lại quanh khu vực bán hoa quả này để bới rác tìm trái cây thối ăn.
    Tôi hỏi chuyện một vài em, có em Hồ Văn Hương, Hồ Văn Hên, Hồ Văn Hứa, đều đang học lớp 2 trường tiểu học số 2 Lao Bảo; em gái Hồ Thị Loi đang học lớp 1 cũng tại trường này. Hương hồn nhiên: “Thấy mấy bạn đi nhặt quả ăn, vừa không mất tiền lại vừa được ăn nên đi theo. Ở bản em nhiều đứa đi nhặt lắm nên phải đi sớm và nhiều khi phải tranh giành mới có ăn”.

    Đối nghịch lại với sự hồn nhiên của các em nhỏ là sự thản nhiên của hàng trăm lượt người lớn qua lại mua bán trong khu chợ. Tất cả họ đều thấy nhưng không ai lên tiếng nhắc nhở hay khuyên răn đám trẻ. Cứ như vậy, đám trẻ đó đã ăn trái cây thối ở khu chợ này suốt cả năm trời.
 
    Nghèo khó và đông con là cảnh chung của những gia đình ở bản Ka Tăng. Đó chính là nguyên nhân khiến các em phải lao ra chợ kiếm hoa quả thối rữa về ăn.

Tuấn Phong

___________________________________________

 Bao la tình mẹ


Tác giả Đỗ Minh Triệu sinh năm 1968. Bị mắc chứng bệnh quái ác "Muscular Dystrophy" làm teo cơ bắp từ năm 10 tuổi.
Ba năm sau, 1991, cùng cha mẹ và 3 em gái qua Mỹ theo diện cựu tù chính trị, hiện cư ngụ tại thành phố Poway, San Diego, California.
Bài viết của Minh Triệu là một tự truyện chân thật và xúc động. Để có bài viết này, tác giả đã vất vả nhiều năm tháng, vì không thể ngồi lâu, và vì chỉ còn xử dụng được một ngón tay duy nhất để gõ phím và bấm mouse.

    Tôi sinh năm 1968 nay đã 43 tuổi, thực sự “gìa đầu” rồi mà tôi vẫn còn được mẹ chăm sóc, thay quần áo, tắm rửa, gội đầu, bón cơm, thay tã lót cho như một em bé sơ sinh. Tôi chính thật là đứa con được mẹ thương yêu nhất trần gian. Nhiều đêm bệnh hành hạ không ngủ được, dõi mắt nhìn mẹ tóc bạc da mồi nằm giường bên, đang thiếp ngủ mệt, sau một ngày vất vả lo cho con.
    Tôi thật đau lòng! Buồn lắm! Thương mẹ đến chảy nước mắt, tôi thì thầm khẽ gọi: - Mẹ ơi, mẹ có biết con yêu mẹ vô ngần. Tình mẹ cho con bao la trời biển, cả cuộc đời mẹ đã đổ bao nhiêu nước mắt, xót thương đứa con kém may mắn nhất của mẹ. Mẹ ơi, con không thể nào sống được khi thiếu mẹ, vì mẹ là hơi thở, là mắt, là tay, là chân của con …
Đã bao lần tôi tự nghĩ và hiểu là nếu tôi chết đi, mẹ sẽ đau buồn lắm. Nhưng nỗi buồn của mẹ rồi sẽ nguôi ngoai theo thời gian. Chẳng hơn là hằng ngày mẹ phải nhìn thấy tôi sống tật nguyền đau đớn, với hình hài chẳng khác nào bộ xương cách trí, được che dấu dưới manh quần tấm áo và đôi bí tấ...
    Như một bà Tiên có phép thuật, mẹ biết tôi đã nghĩ đến cái chết, nên bà thường hay nói với tôi rằng :
- Con là lẽ sống của mẹ, cả đời mẹ được chăm sóc con như một em bé mẹ rất hạnh phúc.
- Con cần can đảm sống để đối diện, thi gan, thử thách với bệnh tật.
- Chẳng phải y khoa đang theo dõi từng biến chuyển trên thân xác con, chẳng phải con đã mong ước chờ đến ngày khoa học tìm ra thuốc chữa căn bệnh “Muscular Dystrophy” quái ác này. Vậy thì ít nhiều khoa học cũng cần dựa trên thử nghiệm, và trên cả thời gian là bao lâu con can đảm sống chờ đợi và hy vọng. Con hãy nói với Chúa:  “Here I am, Lord; I come to do your will .”
   Tôi thương mẹ và vâng lời, nên Chúa đã phải nghe tôi yếu đuối tuyên xưng đức tin, mỗi khi tôi cần tự xoa dịu đau đớn, cần có sức chịu đựng nỗi thống khổ mà tôi không thể tự vất bỏ đi được. Ngay cả đến con ruồi, con muỗi bé tí tẹo chúng cũng có thể tự do hành hạ tôi, cho đến khi mẹ tôi ra tay cứu giúp, đuổi chúng đi.
    Nói chính xác là tôi đã tồn tại trên thế gian này 43 năm, cũng là một phép lạ, một sự tỏ rõ quyền năng của đấng tạo hóa có quyền ban sự sống cho con người, và Ngài chưa muốn đem tôi ra khỏi thế gian này, tôi còn phải sống bằng cách này hay cách khác trong khổ đau. Tôi nghĩ bất cứ người nào nhìn thấy tôi, cũng đều rất ái ngại và thầm nghĩ : “phải sống như thế thà chết sướng hơn”.
    Thử hỏi còn gì đau khổ bằng khi tôi vẫn còn có đôi mắt để nhìn, đôi tai để nghe, cái miệng để gọi mẹ suốt ngày và nhất là còn có cái đầu tỉnh táo biết thương nhớ, giận hờn, biết cảm nhận niềm vui, nỗi buồn, biết phân biệt phải trái, đúng hay sai, biết đói, biết khát, biết nóng, biết lạnh, biết đau đớn tê dại, biết nhờm gớm khi đã tiêu, tiểu ra tã v.v...
    Nói tóm lại, khuôn mặt và bộ não của tôi trong 43 năm qua vẫn nguyên vẹn, bình thường, không bị ảnh hưởng bởi bệnh “Muscular Dystrophy”, một chứng bệnh làm teo dần các cơ bắp, mà tôi đã mắc phải từ năm lên chín hay lên mười tuổi.


Mẹ lúc còn trẻ

    Cha tôi là Sĩ Quan Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa, mẹ tôi là Công Chức. Ngày 30-4-1975 Cộng sản miền Bắc cưỡng chiếm được miền Nam Việt Nam, thì đến ngày 29-5-1975 cha tôi phải đi trình diện “Học Tập Cải Tạo”, lúc đó mẹ tôi mới sinh em bé thứ tư được một tháng và tôi là đứa con lớn nhất mới được 7 tuổi. Lệnh bắt cha đi “học tập” nghe nói Thiếu Tá học một tháng thì về. Nhưng mà thời gian cha tôi phải “học” trong các trại tù cải tạo lâu lắm, lâu gấp 120 lần thời gian VC gian dối nói là cha tôi đi học chỉ có một tháng, trong khi cha đã học hết 5 năm ngoài Bắc, còn phải học thêm 5 năm trong Nam nữa, mới được tha về gặp lại mẹ và 4 anh em chúng tôi năm 1985.
    Ngày cha đi tù cải tạo, tôi vẫn còn mạnh khỏe, hay ăn chóng lớn theo tuổi đời và phát triển bình thường như bao trẻ khác. Vậy mà hai, ba năm sau, chẳng biết tôi mắc phải chứng bệnh gì, cơ thể sinh ra yếu đuối, tay chân rệu rã, đi đứng không được vững vàng. Chỉ cần một sự va chạm nhẹ vào người tôi của ai đó, tôi cũng ngã lăn ra và khó khăn lắm mới đứng dậy được. Còn va chạm mạnh thì u trán, vỡ đầu. Vì thế trong thời gian còn đi học, thầy hoặc cô giáo đã phải đem tôi đến trạm xá hay nhà thương khâu vài mũi hay nhiều hơn, cho nên trên đầu tôi mới có nhiều vết sẹo lớn, nhỏ.
    Khi tôi bắt đầu phát bệnh khoảng chừng vào năm 1978 hay 1979 gì đó, thời gian này người ta đồn ầm lên là trong Chợ Lớn có một ông Thầy rất tài giỏi, chữa bệnh theo cách văn minh tân tiến, không cần dùng thuốc mà dùng “xung điện” để chữa trị. Lúc đó tôi nào biết “xung điện” là gì. Chỉ biết là người thầy “tài giỏi” này dùng hai tay đặt lên đầu, lên vai bệnh nhân để chuyền “điện” của ông (gọi là nhân điện) chạy qua cơ thể người bệnh, gặp “điện” của bệnh nhân. Hai luồng “điện” này gặp nhau, thì xảy ra “xung điện” diệt trừ căn bệnh. Cách điều trị giản dị chỉ có thế thôi. Bất kể là bệnh gì. 
    Thầy chữa bệnh làm phước, không lấy tiền (nhưng thầy vui vẻ nhận quà cáp bệnh nhân đem đến), vì vậy số bệnh nhân đến xin được Thầy chữa bệnh mỗi ngày rất đông. Nhà tôi ở xa, mẹ con tôi phải ra khỏi nhà từ 4 giờ sáng, đến địa điểm xếp hàng lấy số thứ tự cùng một đám đông người. Chờ tới khoảng 8 giờ thì Thầy đến cùng với người phụ tá. Người phụ tá gọi từng đợt 10 người theo số bắt đầu từ 1 đến 10, bệnh nhân trong số được gọi, mau mắn vào trong ngồi xếp thành vòng tròn, để Thầy đi chung quanh đặt tay lên đầu, lên vai truyền “điện” cho nhanh chóng .
    Sáng nào cũng vậy, mẹ tôi cứ phải dùng khăn ướt lau mặt cho tôi: đứa bé 10 tuổi còn đang say ngủ, có như vậy tôi mới chịu tỉnh ngủ mở mắt ra, và mẹ mới lôi được tôi đến bên chiếc xe đạp xe đạp mini cũ kỹ, xốc tôi ngồi lên, bắt vòng tay ôm lưng mẹ cho chặt, để mẹ chở vào Chợ Lớn nhờ thầy truyền “điện”, tạo “xung điện” giúp cho cơ thể tôi cứng cáp, mạnh khỏe trở lại. Ngày nào mẹ tôi làm việc vất vả quá mệt, ngủ quên đến 6, 7 giờ sáng mới thức dậy, thì phải đi vội vã lắm. Và hôm ấy, nhanh nhất cũng phải đến 2, 3 giờ chiều, mẹ con tôi mới về đến nhà, rất mệt mỏi và đói khát. Tôi không thích thú và tin tưởng vào sức mạnh “nhân điện” của thầy, nhưng tôi vẫn ngoan ngoãn theo mẹ mỗi ngày đi chữa bệnh cho mẹ vui lòng, nhất là bà Nội tôi lại luôn nói :“có bệnh phải chịu khó chạy đi vái tứ phương cháu ạ”.
    Dù có phải “vái bệnh” vất vả tứ phương mẹ tôi cũng không ngại, nhưng sau mấy tháng nghỉ hè kiên trì theo Thầy, mà bệnh tình của tôi cũng không thấy có được một chút kết quả nào, mẹ con tôi đành bỏ cuộc, khi năm học mới đã bắt đầu. Thời gian này, mẹ tôi chở tôi đến cổng trường bằng chiếc xe mini cọc cạch, từ cổng trường tôi có thể tự đi vào lớp. Nhưng rồi sau đó, đã có vài lần tôi tuột khỏi xe, ngã xuống đường rất nguy hiểm, nên mẹ không dám chở tôi đi học bằng xe đạp nữa, bà phải cõng tôi đến trường, đưa tôi vào tận chỗ ngồi trong lớp học. Đến giờ tan học, mẹ lại bỏ công bỏ việc chạy vội đến lớp cõng tôi về, bất kể ngày nắng, ngày mưa. Muốn tôi đi học, mẹ phải cõng thôi, vì hai chân tôi bây giờ chỉ còn khả năng đi được khoảng vài mươi bước, có người đi kèm cặp bên cạnh.
    Đi học mà hành mẹ tôi như thế tôi thấy ái ngại và xấu hổ lắm, nên đã nhiều lần tôi xin mẹ cho tôi nghỉ học, nhưng mẹ tôi cương quyết không cho, mẹ nói: bệnh tật như con càng phải học nhiều hơn. Con và mẹ chúng ta cùng cố gắng: mẹ cố gắng lo cho các con có cơm ăn áo mặc, các con cố gắng học chăm học giỏi, hãy nghĩ đến cha đang bị tù đày. Và mãi đến khi tôi tốt nghiệp cấp 2, phải thi vào cấp 3 không đậu, một phần vì bệnh tật, một phần vì cái “tội” con Thiếu Tá “ngụy”. Đến lúc này mẹ tôi mới đành chịu bó tay và buồn lắm, khi tôi không được tiếp tục việc học nữa.
    Không đi học ở nhà quanh quẩn với bà Nội, bệnh tôi cứ vậy tăng thêm theo ngày tháng. Đến năm 1988 hai chân tôi không còn có thể đứng thẳng mà lê bước, ngay cả khi tôi dùng hai tay vịn, men theo điểm tựa mà nhấc chân đi cũng không được nữa. Muốn di chuyển quanh nhà, tôi phải ngồi xe lăn hoặc ngồi bệt xuống đất, dùng mông và hai tay chống mà lết đi, khi tôi tròn tuổi hai mươi, rất thèm đi đứng chạy nhảy với chúng bạn.
    Năm 1991, gia đình tôi được qua Mỹ định cư theo diện H.O#8. Ngay sau khi được cấp thẻ Medi-Cal, mẹ tôi đã sốt sắng đưa tôi đi chữa bệnh. Gặp bác sĩ gia đình giới thiệu tôi đến bác sĩ chuyên khoa, rồi ông chuyên khoa giới thiệu đến cả bệnh viện này, nọ. Cuối cùng tôi được chuyển đến Bệnh Viện của trường University of  California of  San Diego (UCSD) để khám toàn khoa, và làm tất cả những xét nghiệm cần thiết, kể cả thử DNA (Deoxyribonuleic Acid). Kết quả cho biết là tôi bị bệnh “Muscular Dystrophy - Backer”, một chứng bệnh làm teo dần bắp thịt (chỉ xảy ra cho nam giới). Bệnh này được tìm ra bởi vị bác sĩ tên Becker  (M.D Becker).
    Khi định được bệnh rồi, bác sĩ cho biết căn bệnh quái ác này vẫn chưa có thuốc ngăn ngừa và chữa trị, mặc dù cả thế giới, đặc biệt là nước Mỹ đã và đang nỗ lực nghiên cứu. Trong tuyệt vọng, tôi thầm cầu nguyện và rất hy vọng một ngày nào đó, các nhà khoa học sẽ tìm ra thuốc chữa trị và thuốc ngăn ngừa, để thế giới loài người không còn có ai bị mắc bệnh “Muscular Dystrophy” nữa.
    Cha tôi vận rủi ngã ngựa, bị VC bắt nhốt tù 10 năm, cho tôi vận may đến được nước Mỹ, một xứ sở văn minh, giàu có và nhân ái nhất thế giới. Nên dù bệnh tật của tôi nan y không thể chữa trị, tôi cũng được an ủi phần nào, vì không phải lo lắng, chẳng biết làm gì để kiếm được miếng ăn, không phải lo sống đời tủi nhục như ở Việt Nam. Bởi vì chính phủ Mỹ có chương trình giúp đỡ những người bệnh tật, không còn khả năng lao động như tôi được chăm sóc sức khỏe, được ăn no, mặc ấm, được hưởng tiền bệnh tật, gọi là tiền SSI (Supplemental Security Income).
    Tôi không có khả năng lao động nữa, nhưng mẹ tôi quả quyết: tôi vẫn có khả năng đi học để mở mang kiến thức, tránh thì giờ buồn chán, và để có thể  học cho mình một ngành nghề, chỉ cần xử dụng khối óc và hai tay (khẳng khiu yếu đuối) học về văn thơ, hay học về computer chẳng hạn, còn hai chân thì cứ kệ cho nó lười biếng đặt trên xe lăn… 
    Nghe mẹ nói vậy, tôi cố tảng lờ đi. Nhưng mẹ tôi không bỏ cuộc, bà cứ theo khuyến khích, thuyết phục tôi mãi bà nói: "Học vấn rất cần thiết cho con. Tri thức đưa con đến với thế giới bao la, cho con đời sống vui vẻ hơn, hạnh phúc hơn. Con thử nghĩ xem, tại sao mẹ đã luống tuổi rồi mà còn đi học, với mơ ước sẽ tốt nghiệp 'Medical Assisstant' để biết lối mà chăm sóc cho con một cách khoa học, và mẹ còn mơ ước xa hơn nữa, là được tình nguyện săn sóc những bệnh nhân hoạn nạn, tàn tật ở những nước nghèo đói, khi mẹ có điều kiện và hoàn cảnh cho phép”.
    Tấm gương hiếu học của mẹ đã nâng đỡ, khuyến khích tôi, nhưng chủ đích cũng vẫn là để làm vui lòng mẹ, nên tôi đã theo mẹ đến trường Mesa College làm thủ tục nộp đơn xin nhập học. Việc đơn từ ở trường, mẹ tôi rành lắm vì bà đã theo học ở Mesa College từ năm trước rồi, tôi không phải lo lắng gì cả đã có mẹ giúp đỡ.
    Những năm tháng hai mẹ con tôi theo học ở trường Mesa College tràn đầy thử thách, nhiều lúc tưởng đâu đã phải bỏ cuộc, không kham nổi những vất vả khó khăn, trần ai lắm khi đi học. Trong diện dân nghèo “low income”, mấy mẹ con chúng tôi chỉ thuê được căn hộ trên lầu của một Apartment.  Nên mỗi ngày đi học, mẹ tôi phải thức dậy từ rất sớm, dọn dẹp nhà cửa, lo điểm tâm cho cả nhà, lo nhắc nhở các em gái tôi đừng để lỡ chuyến xe Bus, phải đi học cho đúng giờ ,v.v…  Khi các em gái tôi đã ra khỏi nhà đi học, lúc đó bà mới đem cặp sách của tôi và mẹ xuống dưới lầu, cất bỏ vào trong xe trước, rồi đi trở lại nhà trên lầu, bồng tôi trên hai tay đi ra cửa và đưa chân đá cho cánh cửa đóng khóa lại, rồi khệ nệ bồng tôi xuống thang lầu, đặt tôi vào xe, kéo dây an toàn gài móc vào cẩn thận cho tôi, rồi bà mới ngồi vào ghế tài xế.
    Từ nhà tôi, mẹ lái xe chạy khoảng 20 phút thì đến trường. Đậu xe vào parking của trường xong xuôi, bà ra sau xe mở “cốp” xe lên, lôi chiếc xe lăn ra ráp lại cho ngay ngắn, vững chắc, rồi mới mở cửa xe, nghiêng người vào bồng tôi ra, đặt ngồi trên xe lăn và đẩy tôi đến lớp học của tôi, tìm chỗ để xe của tôi vào đâu cho thuận tiện nhất, rồi mẹ mới đi đến lớp của bà.
    Trong lớp học, vì hai tay tôi yếu, rất khó khăn “take note”, nên nhà trường trả tiền “work study” cho một sinh viên, giúp tôi ghi chép vào “note book” những lời thầy giảng dậy hay dặn dò làm “home work” ở trang nào, sách nào, và hết buổi học thì đẩy tôi đến lớp kế tiếp hay lên phòng Lab …
    Khi tan học, mẹ lại vội vôi vàng vàng chạy đến đón tôi ở phòng Lab hay ở lớp học cuối cùng nào đó. Lại đẩy xe lăn tôi ra Parking, bồng tôi vào xe, cài dây an toàn, đem cất xe lăn vào “cốp” xe và lái về nhà. Về đến nhà, tôi vẫn ngồi trên xe, chờ mẹ tôi đem cặp sách của hai mẹ con lên nhà trước, sau đó mẹ mở sẵn cửa phòng, rồi mới trở xuống xe, ì ạch bồng tôi bước 18 bậc thang lên tầng lầu.  Vào trong nhà, đặt tôi lên giường xong, mẹ thường phải thay tã cho tôi ngay. Sau đó hỏi tôi có muốn ăn hay uống gì không để mẹ lấy.
    Lo cho tôi tạm xong, mẹ bắt đầu làm việc nhà, làm đủ thứ việc không tên, rồi lại đi học thêm một, hai lớp nữa, còn tôi ở nhà lo làm “home work” và chờ mẹ về lo bữa ăn tối cho cho cả nhà.
    Mùa Đông nước Mỹ có nhiều ngày mưa phùn gío rét, tôi muốn nghỉ học ở nhà lắm, nhưng mẹ tôi vẫn cương quyết không bỏ lớp nào, nhất định chịu ướt, chịu lạnh bồng bế tôi lên, xuống thang lầu và đi học rất đúng giờ. Nhằm mùa học không có lớp ban ngày, trùng giờ cho cả hai mẹ con, chúng tôi phải chọn lớp đêm để học. Mùa Đông trời mau tối và ban đêm rất lạnh, có khi mẹ bồng tôi đặt được vào xe rồi, là cả hai mẹ con ngồi run cầm cập, thế mà xe lại phải mở máy lạnh cho kiếng trong xe hết mờ, sáng trong trở lại mới thấy đường mà lái xe về nhà, những lúc ấy mẹ luôn xuýt xoa nói: "Tội nghiệp con quá, con ráng chịu lạnh một tí mẹ mở lại heat là ấm ngay nhé !" Đâu phải một mình tôi lạnh, mẹ cũng lạnh vậy, nhưng mẹ không lo cho mẹ mà chỉ nghĩ đến con. Mẹ con tôi chịu đựng vất vả như thế trên con đường trau giồi kiến thức. Và mẹ đã tốt nghiệp “Medical Assisstant” hồi tháng 5 năm 1997. Tôi rất hãnh diện về mẹ.
    Và tôi cũng tự hãnh diện về mình, khi được nhận mảnh bằng AS “Associate of Art” ngành “Computer Information Science” vào tháng 6 năm 2000. Mảnh bằng này rất khiêm tốn, nhỏ bé, nhưng tôi có được nhờ vào tất cả công lao khó nhọc của mẹ. Mẹ đã đổ biết bao mồ hôi, nước mắt cho con niềm tin, niềm tự hào còn có mẹ nâng đỡ ủi an. Ngoài mảnh bằng tôi có được sau 6 năm, (trong khi người bình thường chỉ cần 2 năm) tôi còn học được thêm bài học “vượt gian khó” quý gía, và biết ý thức cần phải học vươn lên trong mọi hoàn cảnh.

    Cầm được mảnh bằng AA nhỏ bé trong tay, tôi tự  tin và mơ ước đến ngày sẽ cầm được mảnh bằng lớn hơn là BA hoặc BS (4 năm Đại Học) thì căn bệnh “ Muscula Dystrophy” trầm trọng hơn, theo thời gian đã làm teo hết các cơ bắp vùng ngực và lưng, ép phổi tôi teo lại, khiến tôi ngộp và khó thở, nguy hiểm đến tính mạng.
    Tôi được đưa ngay vào bệnh viện “SHARP”, bác sĩ trách nhiệm đã khuyên tôi phải chọn một trong hai giải pháp:
1. Không cần sự can thiệp của khoa học, chấp nhận sự rủi ro sẽ đến. Có nghĩa là tôi sẽ chết ngộp bất cứ lúc nào.
2. Phải phẫu thuật, mở một lỗ nơi cổ, đặt ống gắn máy trợ giúp cho sự hô hấp. Như vậy mối nguy hiểm sẽ bớt đe dọa tính mạng và sự sống của tôi sẽ được dài thêm.
    Thương mẹ, tôi đã chấp nhận giải pháp thứ hai.
    Trước khi mổ, mẹ và tôi đã phải ký giấy chấp nhận mọi tình huống có thể xảy đến với tôi, kể cả tôi sẽ “ngủ” luôn trong ca mổ, không bao giờ thức dậy nữa. Mười giờ sáng ngày ấn định mổ, mẹ đẩy xe lăn đưa tôi đến nhập viện. Mẹ đã cầm hai bàn tay khẳng khiu của tôi, ôm hôn trán tôi trước khi hai bà y tá đẩy tôi vào phòng mổ, còn mẹ được hướng dẫn xuống lầu, đến phòng chờ đợi chờ kết quả ca mổ kết thúc (tốt đẹp hay xấu). Tại phòng chờ đợi, vì lo cho tính mạng của con, mẹ đứng ngồi không yên, đi ra đi vào bồn chồn đếm thời gian từng phút chậm chạm trôi qua như người ngớ ngẩn.
    Trong năm tiếng đồng hồ chờ đợi, mẹ tôi không ăn uống gì cả, bà chỉ biết cầu nguyện rồi phó thác và xin vâng theo thánh ý Thiên Chúa. Rồi cũng tới lúc nghe cô y tá dùng máy phóng thanh gọi mẹ tôi lên lầu. Lên lầu vừa trông thấy tôi, nét mặt mẹ liền rạng rỡ, vì mẹ biết là tôi vẫn còn sống, còn ở lại trần gian với bà, mẹ chưa vĩnh viễn mất con đứa con bất hạnh.
    Mắt mẹ rưng rưng lệ nhìn vào cổ tôi, sau khi giảu phẩu đã được đặt vào một ống plastic tròn, to bằng 3 ngón tay chụm lại, trong khi tay mẹ vuốt tóc tôi như chia xẻ, như muốn gánh vác bớt cho tôi những đau đớn mà tôi đang chịu. Hiểu lòng mẹ bao la, tôi cố nén mọi đau đớn, ráng gượng nở nụ cười với mẹ cho mẹ an lòng. Nhưng nụ cười đầu tiên của con dành cho mẹ, sau khi hồi sinh vẫn còn ảnh hưởng thuốc mê, nên không trọn vẹn, không đủ xóa hết những lo âu, sợ hãi của mẹ. Tuy vậy, bao nhiêu mệt mỏi của mẹ như đã tan biến, khi cuộc đời mẹ tưởng đã cạn kiệt hy vọng, lại đong đầy niềm vui và ý nghĩa cuộc sống, khi núm ruột của mẹ vẫn còn đây. Mẹ lại được tiếp tục yêu thương, ấp ủ con trong vòng tay ấm áp, ngọt ngào tình mẫu tử. Tôi không thể ôm mẹ được, tủi thân nên nước mắt tôi trào ra, không kìm chế được nữa, dù tôi đã tự hứa không bao giờ để mẹ thấy con khóc mà đau lòng. Mẹ ơi, thế là cuộc đời con từ đây phải sống nhờ vào máy móc, và mẹ phải thêm công việc chăm sóc sệ sinh, thay ống, rửa những linh kiện nối từ máy thở vào ống thở đặt nơi cổ họng chuyền qua vòm họng, thay thế cho buồng phổi của con, giúp con duy trì sự sống.
    Phần tôi, rất đau đớn vì một vật lạ, luôn nằm nơi cổ họng, nối vào khí quản. Mỗi cử động dù nhỏ đều làm tôi đau đớn khôn cùng và luôn phải nhờ mẹ giúp đỡ. Thân xác tôi như nằm trên bàn chông chịu cực hình. Tôi quá tuyệt vọng vì nỗi đau thể xác, nên tinh thần bấn loạn. Lần này, tôi thực sự không muốn sống nữa, tôi muốn từ gĩa cõi đời, muốn được giải thoát khỏi cực hình. Dù sao tôi cũng đã có 34 năm sống trong vòng tay êm đềm của mẹ, thế là đã quá đủ rồi xin hãy cho tôi trở về với cát bụi. Tôi bày tỏ cùng mẹ ý định này của tôi.
    Nghe vậy, bà vội vàng ôm chầm lấy tôi, nức nở, nghẹn ngào qua làn nước mắt: "Con bỏ mẹ đi, mẹ biết sống cùng ai, sống cho ai nữa đây! Con đi rồi còn ai để mẹ nâng giấc ủi an! Ai sẽ cho mẹ những giây phút dịu dàng hạnh phúc và hy vọng dù rất hiếm hoi, để cùng nhau đi hết đoạn đường đời cay nghiệt! Triệu ơi! mất con rồi đời mẹ thành vô nghĩa. Lạc lối về mẹ mất cả ánh sao đêm trông mong hy vọng. Con đừng bỏ mẹ bơ vơ trơ trọi giữa đường đời, vốn đã nghiệt ngã với mẹ con ta. Triệu ơi, hãy vì mẹ con can đảm lên mà sống! Mẹ ẵm bồng con, con an ủi mẹ chúng ta đỡ nâng nhau. Con ơi, đừng bỏ mẹ …"
    Lời mẹ than vãn làm tim tôi đau nhói, thắt ngặt lại và tôi cũng nức nở như chưa bao giờ được khóc trong đời. Tôi phải sống! Cho dù tôi tàn tật; cho dù tôi đau yếu mang bệnh nan y, nhưng sự hiện hữu của tôi mới làm cho nụ cười còn đọng mãi trên đôi môi mẹ. 
    Sự sống là cao quí. Cuộc đời dù là bất hạnh, cùng khổ đến đâu cũng đều có ý nghĩa sống, sống vị tha và rất cần đức hy sinh cùng lòng hiếu thảo. Mẹ ơi! Hai hàng lệ của mẹ hoà với nước mắt con, tự làm thành tờ giao ước của hai mẹ con ta, phải đồng lòng gắn bó đời nhau cho đến “khi Chúa thương gọi về”. Thân xác dù tàn tật cũng không được tự ý hủy bỏ.
    Tôi phải sống vì mẹ như mẹ đã từng sống vì tôi! Tôi hiểu lòng mẹ tan nát mỗi lúc nhìn tôi và lòng tôi cũng nát tan khi thấy mẹ nước mắt mãi lưng tròng! 
    Có phải tại vì mẹ đẹp người, đẹp nết nên phải chịu cảnh hồng nhan là đa truân?
    Có thật định mệnh đố kỵ muốn làm chết đuối "người trên cạn mà chơi"?
    Ôi, định mệnh! Định mệnh sao quá trớ trêu! Định mệnh đã dành riêng cho mẹ những bất hạnh truân chuyên. Từ tuổi 30, mẹ đã phải một thân một mình nuôi dạy bốn đứa con thơ dại, vất vả nhất là chăm sóc đứa con tật nguyền, chăm sóc bà nội nay ốm mai đau, thay cha báo hiếu, lo mộ phần an nghỉ cho bà nội, lo kiếm thêm tiền thăm nuôi, tiếp tế lương thực, thuốc men cho cha trong suốt 10 năm tù cải tạo từ Bắc vào Nam. Mẹ quá vất vả, tảo tần, dãi nắng dầm mưa, bất chấp mọi gian nan, khốn khó, hiểm nguy luôn đe dọa đến tính mạng, vì mẹ phải buôn chui, bán chợ đen, chợ đỏ dưới mắt cú vọ của công an nhân dân, mẹ mới đem lại sự ấm no cho gia đình 6 người, trong hoàn cảnh cả nước ăn bo bo, mì sợi, ngô, khoai thay cơm gạo, sau ngày miền Nam được “giải phóng”, cha được “đi học” mút mùa.
    Ôi! Mẹ hiền của tôi, một người mẹ vất cả đời mà không hề than vãn, mẹ âm thầm tận tụy, cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho gia đình. Qua mẹ, tôi nhớ đến câu danh ngôn: 'Thượng đế không thể ở khắp mọi nơi, nên Ngài phải sinh ra những người mẹ'. Và tôi liên tưởng đến Đức Mẹ Maria đã phải chứng kiến những nhục hình tra tấn của quân dữ trước giờ Jesus, con một của Người bị đóng đinh trên thập giá. Còn mẹ tôi, cũng khổ đau không kém gì Mẹ Maria vì mẹ suốt đời phải xót xa nhìn đứa con trai đầu lòng duy nhất của mình, hằng ngày phải chịu khổ hình trong bệnh tật. 
    Thật không giấy bút nào tả xiết và tôi cũng không đủ khả năng để nói lên được lòng can đảm và sự chịu thương chịu khó, sự kiên trì cùng trái tim đầy ắp yêu thương, nhân hậu của mẹ tôi. Tôi chỉ biết yêu mẹ bằng luỹ thừa tình yêu mẹ mỗi ngày và sống, dù là sống nhờ mẹ và máy móc dây nhợ quanh người.
    Có lần tôi những tưởng đã mất mẹ vĩnh viễn, khi bà bị một tai nạn xe hơi rất nặng giữa xa lộ 163, bà bị gãy chân và bể đầu bất tỉnh. Tưởng mẹ tôi đã chết trong xe, người gây ra thảm trạng cho mẹ tôi đã bỏ chạy trốn mất. Ấy thế mà, sau bảy tiếng đồng hồ phẩu thuật, vừa hồi tỉnh, điều mẹ tôi quan tâm đầu tiên là hỏi:
-Triệu đâu? Con tôi vẫn bình yên chứ?
    Sau tai nạn đó mẹ tôi lại mang thêm trong chân những chiếc đinh vít inox, mà những lúc trái gió trở trời thường làm mẹ tôi nhức nhối khổ sở lắm. Những lúc ấy, tôi thương mẹ biết chừng nào. 
    Mẹ Hoàng Minh Đức ơi, chúng con yêu thương và kính trọng mẹ vô ngần, vì trong bất cứ hoàn cảnh nào, mẹ cũng luôn dậy bảo, nhắc nhở anh em chúng con phải biết vâng lời, sống ngoan ngoãn, chăm chỉ học hành, luôn thật thà, khiêm cung, không hiềm tỵ ganh ghét bất cứ ai. Nhờ có mẹ răn dậy cẩn thận như thế  nên anh em chúng con, chưa hề biết gian dối hay ganh ghét ai bao giờ.
    Mẹ chính thật có trái tim vĩ đại dành của chúng con (và cha nữa). Nhưng cha đã từ chối nhận, đã rũ bỏ mẹ và 4 anh em chúng con ngay sau khi đến được nước Mỹ, trong khi mẹ luôn nghĩ sẽ cùng cha sống đến gìa, yêu đến gìa ...
    Thử hỏi có người nào không âu sầu, khi biết đứa con trai duy nhất, bị mắc căn bệnh nan y, không thể nối dõi tông đường. Mẹ cũng vậy, mẹ rất đau buồn và còn phải nhận thêm cay đắng khi “thuyền tình đã neo bến mới”. Dù đau buồn cay đắng, mẹ vẫn không hề biểu lộ sự giận dữ vì lòng mẹ rất nhân hậu, bao dung. Mẹ đã nói: "Cha khổ nhiều vì CS rồi, đừng ép buộc cha thêm khổ sinh ra uất ức, la hét, chưởi rủa khi phải ở lại với chúng ta. Hãy để cha quyết định theo cách tốt nhất mà cha chọn. Nếu từ bỏ mẹ con mình mà cha hạnh phúc, thì hãy chấp nhận."
    Tôi biết, mẹ nói vậy là để trấn an anh em chúng tôi và để che dấu cõi lòng tan nát, an phận chấp nhận quyết định của cha. Cách đây không lâu, mẹ nhờ cô bạn mở cho một địa chỉ e-mail, khi được hỏi mẹ chọn “password” là những chữ gì, mẹ đã nói ngay câu “đả đảo ông chồng” rồi mẹ và cô bạn cùng cười vang. Tôi cũng chua xót cười theo và thương mẹ hiền lành chỉ biết hô “đả đảo” khi cha tuyệt tình!
    Cha ơi, hai mươi năm đã trôi qua, cha sống có hạnh phúc không, cha có toại nguyện với các em trai khôi ngô, khỏe mạnh “nối dõi tông đường”, cha có cõng các em trên lưng cha, như mẹ đã cõng con nhiều năm tháng trên lưng mẹ. Lưng mẹ êm đềm và ấm áp lắm, không biết lưng cha thế nào, con chưa một lần được cha cõng trên lưng, được vòng tay ôm cổ cha âu yếm, đấy là điều con mãi nuối tiếc. Và bây giờ thì con không còn có thể vòng tay ôm cổ cha được nữa, nếu như cha có về và muốn cõng con, khi hai cánh tay con thịt đã teo biến hết, chỉ còn da bọc lấy xương, lõng thõng và vướng víu khi mẹ tắm rửa, thay quần áo cho con. Khi con xử dụng computer, mẹ phải nhấc cánh tay khẳng khiu của con đặt lên bàn, cầm mấy ngón tay con đặt trên con chuột (mouse) kéo từng ngón vào vị trí chính xác thuận tiện nhất, để con có thể bấm xử dụng được dễ dàng. Tuy vậy, chốc chốc con lại gọi mẹ ơi, mẹ hỡi để mẹ chạy đến giúp, vì đẩy tới đẩy lui, con “mouse” đã chuồi ra khỏi tay con rồi, mà con không thể tự nắm bắt nó lại được.
    Cha ơi, con chợt nhớ đến cha mà viết những dòng chữ này, nếu cha có tình cờ đọc được, xin hiểu lòng con, đứa con trai tàn tật thân xác từ thuở ấu thơ, luôn khao khát tình cha. Bởi vì tình mẹ dù có bao la, cũng không thể phủ trùm thay thế tình cha cho con. Con đã có “Ánh Sao Tình Mẹ”, con cũng muốn có những nốt nhạc cho tình phụ tử, là thật lòng con đấy!
    Và hơn tất cả con luôn cảm tạ hồng ân Thiên Chúa, đã ban cho con đủ sức chịu đựng và "xin vâng" đón nhận mọi khổ đau và cho con còn sống đến hôm nay.
    Con xin tri ân nước Mỹ. Vinh danh mẹ. Tạ ơn cha. Cám ơn các em gái Trinh - Trâm - Bình và các cháu đã chăm ngoan, học giỏi thay anh, thay bác Triệu bù đắp, đóng góp tài sức cho gia đình, cho xã hội. Cám ơn các em rể thủy chung, mạnh mẽ, thẳng ngay như tùng như bách làm cột trụ vững chắc cho gia đình được tràn đầy hạnh phúc, luôn vang tiếng cười.
    Con cũng nguyện xin Thiên Chúa trả công bội hậu cho tất cả mọi người đã đối đãi tử tế với gia đình con, cách riêng là an ủi, giúp đỡ mẹ và con trong hoạn nạn. Đặc biệt cám ơn anh chị Cao Ngô An đã không quản ngại vất vả làm tài xế đưa mẹ đi chợ, giúp mẹ nấu nướng, đưa em đi khám bệnh, đi những nơi cần thiết, từ khi mẹ bị tai nạn xe hơi trên xa lộ, không lái xe được nữa. Em ơn anh nhiều .
San Diego 3/3/11.          
Tác giả Đỗ Minh Triệu


VoviCare
A Charity Association

VoviCare is a non-profit, charity association which was founded in 2000 with the aim of assisting poor but hard-working children to continue their schooling.
VoviCare directly carries out and co-ordinates all their activities without going through any middle men or any other organisations, government.

Your IP : 54.158.55.5    Bản Tin
 
Copyright © 2008 Vovicare
Phone: (02)91537241 (Viet)
Mobile: 0422-655-472 (Son)
P.O.Box 153 Riverwood
NSW 2210 Australia
Email: contact@vovicare.net
Website: http://www.vovicare.net
Website: 1302488 hits  This page: 1302593 hits Page generated in: 0.0625 secs Webmaster